Một số KPI đo lường về khía cạnh hiệu suất môi trường và xã hội

Một số KPI đo lường về khía cạnh hiệu suất môi trường và xã hội:

1. Dấu chân Carbon (Carbon Footprint)

Hiện nay, thay đổi khí hậu đang là một trong những vấn đề nghiêm trọng và cấp thiết nhất mà toàn cầu đang phải đối mặt. Lí do chính dẫn đến sự biến đổi khí hậu nhanh chóng trên toàn cầu chính là do các khí nhà kính (GHG) được thải liên tục vào môi trường.

Tất cả các tổ chức/công ty/doanh nghiệp đều có vai trò quan trọng trong nỗ lực toàn cầu để ngăn chặn sự biến đổi khí hậu. Phương pháp hiệu quả nhất là dấu chân carbon: đo lường thiệt hại mà doanh nghiệp tác động tới môi trường bởi khí thải nhà kính.

Dựa trên dấu chân Carbon, các doanh nghiệp sẽ phải đặt nhiều sự quan tâm hơn trong việc tìm ra các biện pháp phù hợp nhằm làm giảm ô nhiễm cho môi trường để đáp ứng các yêu cầu về luật pháp cũng như các quy tắc đạo đức xã hội. Trong nhiều trường hợp, việc gây ô nhiêm môi trường sẽ làm cho danh tiếng doanh nghiệp đi xuống, kéo theo sự sụt giảm lợi nhuận và giá cổ phiếu.

Các dữ liệu để đo dấu chân Carbon được thu thập từ nhiều nguồn như khí thải từ các nhà máy, từ máy bay dân dụng… Dấu chân Carbon được chia làm hai loại: dấu chân trực tiếp và dấu chân gián tiếp:

  • Dấu chân trực tiếp là các khí thải được thải trực tiếp vào môi trường trong quá trình sử dụng nhiên liệu để tạo ra năng lượng và vận hành máy móc…
  • Dấu chân gián tiếp là các khí thải nhà kính được thải ra trong quá trình sử dụng các sản phẩm.

 2. Dấu chân Nước (Water Footprint)

Nước sạch là một tài nguyên đang ngày càng trở nên khan hiếm, trong khi nhu cầu sử dụng ngày càng tăng cao. Dấu chân nước thể hiện sự liên kết giữa việc tiêu thụ sản phẩm hàng ngày với tình trạng suy kiệt và ô nhiễm của nước ở các khu vực mà sản phẩm được sản xuất. Hầu như tất cả các sản phẩm đều có dấu chân nước, dù lớn hay nhỏ; đây là vấn đề quan tâm của cả khách hàng mua sản phẩm lẫn doanh nghiệp sản xuất, trao đổi mua bán những sản phẩm này.

Dấu chân nước là một chỉ số lượng nước được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi khách hàng và nhà sản xuất.
Một dấu chân nước gồm 3 thành phần:

  • Dấu chân nước xanh lá đại diện cho nguồn nước sạch được tiêu thụ (nước mưa được tích trữ trong đất làm ẩm)
  • Dấu chân nước xanh da trời là nguồn nước được tiêu thụ từ biển cả, sông hồ bao gồm cả nước ngầm.
  • Dấu chân nước xám chỉ sự ô nhiễm, được định nghĩa là lượng nước sạch cần thiết bị đồng hóa trong quá trình ô nhiễm dựa trên tiêu chuẩn chất lượng nước tồn tại xung quanh.

Dựa trên các cơ sở dữ liệu và tổng hợp dấu chân xanh lá, xanh da trời và xám, các doanh nghiệp sẽ xác định được dấu chân nước. Việc giảm chỉ số dấu chân nước là một trong những chiến lược quan trọng về môi trường của các doanh nghiệp hiện nay. Rất nhiều doanh nghiệp đang phải đối mặt với các mối nguy nghiêm trọng liên quan đến nguồn nước sạch khan hiếm trong hoạt động điều hành và chuỗi cung ứng. Một lí do các doanh nghiệp nên tính toán dấu chân nước và thiết lập các biện pháp giảm chỉ số này là để ứng phó với các điều luật về môi trường của chính phủ. Ngoài ra, chú trọng vào chiến lược dấu chân nước cũng là một cách để doanh nghiệp tăng thêm danh tiếng cho thương hiệu của mình.

3. Mức tiêu thụ năng lượng (Energy Consumption)

Mức tiêu thụ năng lượng trên toàn thế giới đang ngày càng tăng cao trong khi các tài nguyên nhiên liệu thì có giới hạn và đang ngày càng giảm, do đó giá cả của năng lượng cũng ngày càng tăng theo. Và chắc chắn trong tương lai, giá nhiên liệu sẽ tiếp tục tăng nữa, bảo vệ môi trường sẽ là vấn đề ngày càng quan trọng; kéo theo đó, khách hàng sẽ cân nhắc nhiều hơn mức độ ảnh hưởng của các sản phẩm họ dùng đối với môi trường. Chính vì thế, các doanh nghiệp cần có những hành động xã hội và tài chính trong việc tiết kiệm năng lượng và giải pháp sử dụng năng lượng có thể phục hồi.

Theo dõi mức tiêu thụ năng lượng chính là phương pháp giúp doanh nghiệp xác định lượng năng lượng đã tiêu thu, từ đó có những chiến lược tiết kiệm chi phí và bảo vệ môi trường.

Mức độ tiêu thụ năng lượng được có thể tính bằng lượng nhiên liệu mà doanh nghiệp mua từ nhà cung cấp trong một khoảng thời gian nhất định, thường là theo tháng hoặc theo quý. Vì các dữ liệu này được tổng hợp trong hóa đơn mua nhiên liệu từ nhà cung cấp nên doanh nghiệp sẽ không tốn chi phí để thực hiện tính toán chỉ số này.

4. Mức độ tiết kiệm nhờ nỗ lực duy trì và cải tiến (Saving Levels Due to Conservation and Improvement Efforts)

Tất cả các doanh nghiệp đều có mục tiêu cắt giảm chi phí và mức độ ảnh hưởng của các hoạt động kinh doanh tới môi trường. Thu thập các dữ liệu về mức độ tiết kiệm nhờ nỗ lực duy trì và cải tiến là sự phản ánh chân thực cho hiệu quả của các chương trình, kế hoạch bảo vệ môi trường và cắt giảm chi phí.

Cách tốt nhất để tính toán chỉ số này là xác định số lượng các chương trình được tạo ra cho việc giảm độ ảnh hưởng của doanh nghiệp đến môi trường và theo dõi mức độ tiết kiệm của các chương trình này trong việc giảm lượng khí thải nhà kính, lượng nước và năng lượng cũng như chi phí.

Quy trình tính toán chỉ số này thường được làm thủ công dựa trên các dữ liệu tiêu thụ năng lượng của công ty. Chi phí để tìm ra mức độ tiết kiệm nhờ nỗ lực duy trì và cải tiến thường rất cao vì phức tạp và tốn thời gian. Chỉ số này cũng có sự liên kết chặt chẽ với dấu chân carbon, dấu chân nước và mức độ tiêu thụ năng lượng.

5. Quãng đường hàng hóa/dịch vụ phải đi trong suốt chuỗi cung ứng (Supply Chain Miles – SCM)

Trong thời buổi toàn cầu hóa hiện nay, chúng ta có thể dễ dàng mua được các sản phẩm yêu thích trên toàn thế giới dù ta đang ở bất cứ đâu. Tuy nhiên, chúng ta thường không tính tới tác động đến môi trường của các sản phẩm này trong quá trình vận chuyển hàng hóa. Ý tưởng đo quãng đường hàng hóa phải đi trong suốt chuỗi cung ứng được phát triển đầu tiên trong chuỗi cung ứng thức ăn, gọi là “quãng đường đồ ăn” (Food miles).

Vì các chuỗi cung ứng là khác nhau nên chúng ta không có một mục tiêu hoặc chỉ số chung của SCM. Mục tiêu chung vẫn là giảm chỉ số SCM xuống thấp nhất có thể. Chỉ số SCM càng cao thể hiện cho việc năng lượng dùng để tiêu thụ vận chuyển hàng hóa từ nơi cung ứng tới người tiêu dùng càng cao, mức độ ảnh hưởng môi trường càng lớn.

Trong tính toán chỉ số này, phương pháp thu thập và tính toán dữ liệu thủ công rất tốn kém chi phí vì vậy các doanh nghiệp thường đầu tư vào các phần mềm để đo quãng đường cung ứng.

6. Tỷ lệ giảm thiểu chất thải (Waste Reduction Rate – WRR)

Tất cả các doanh nghiệp đều có mục tiêu giảm tỉ lệ chất thải xuống mức thấp nhất, đặc biệt là các ngành công nghiệp với phải xử lí lượng nguyên liệu thô sơ chiếm 60% trong quy trình sản xuất. Bên cạnh chi phí cho chất thải của nguyên vật liệu,  doanh nghiệp còn tốn các khoản chi phí như chi phí dành cho rác thải, chi phí xử lí các chế thải sản phẩm, thời gian quản lí chất thải…

Đo lường và giám sát sẽ mang đến cho doanh nghiệp cái nhìn sâu hơn về hiệu quả của doanh nghiệp cũng như những ảnh hưởng của doanh nghiệp tới môi trường và xã hội.

Chất thải có thể tính bằng cách đơn giản là lấy lượng nguyên liệu thô sơ ban đầu trừ đi lượng nguyên liệu thô sơ đã tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh. Tỉ lệ giảm thiểu chất thải được tính bằng %:

WRR = Lượng chất thải tạo ra trong khoảng thời gian nhất định của hiện tại / Lượng chất thải tạo ra trong khoảng thời gian tương đương trong quá khứ.

* Lưu ý: sản phẩm tạo ra trong hai khoảng thời gian này là như nhau.

7. Tỷ lệ tái chế chất thải (Waste Recycling Rate – WRR)

Mọi doanh nghiệp luôn muốn giảm thiểu tối đa lượng chất thải tuy nhiên không phải lúc nào các doanh nghiệp cũng cắt giảm lượng chất thải tạo ra. Vì thế các doanh nghiệp tìm cách tái chế chất thải để giảm mức độ ảnh hưởng đến môi trường; tái chế chất thải không những giúp bảo vệ môi trường mà còn giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí.

Tỷ lệ tái chế chất thải không những là chỉ số thể hiện lượng chất thải doanh nghiệp đang tái sử dụng và tái chế mà nó còn cung cấp thông tin cho doanh nghiệp tỉ lệ tiến tới mục tiêu không có chất thải – điều mà cả chính phủ lẫn các doanh nghiệp đều cố gắng thực hiện.

Thu thập các dữ liệu để tính toán chỉ số này khá phức tạp, thường là thủ công và chỉ số này thường không chính xác 100%, nó cho doanh nghiệp nhận biết xu hướng tăng giảm hơn là một con số chính xác. Vì thế, các doanh nghiệp có xu hướng sẽ tính chỉ số cho một loại chất thải hoặc sản phẩm cụ thể. Ngoài ra, tổng hợp tỷ lệ giảm thiểu chất thải của mỗi loại cũng đưa ra con số trung bình cho chỉ số này.

Chỉ số này thường được tính theo quí hoặc nửa năm một lần theo công thức:

WRR = (lượng chất thải được tái chế hoặc tái sử dụng/tổng lượng chất thải sản phẩm) x 100%

8. Tỷ lệ tái chế sản phẩm (Product Recycling Rate – PRR)

Bên cạnh việc tái chế chất thải, tái chế sản phẩm cũng là một chiến lược của nhiều doanh nghiệp để sản xuất hoặc bán. Hiện tại, ở nhiều nước, giữa chính phủ và doanh nghiệp có một giao thiệp, đó là việc tái chế sản phẩm là trách nhiệm của nhà sản xuất. Vì thế, các doanh nghiệp luôn tìm cách để gia tăng chỉ số này.

PRR cung cấp tỉ lệ về lượng sản phẩm bán ra đã được tái chế hoặc tái sử dụng. Cũng như tỷ lệ tái chế chất thải, việc thu thập dữ liệu cho PRR thường đòi hỏi thủ công, phức tạp và tốn nhiều thời gian.  PRR được tính bằng phần trăm:

PRR = (lượng sản phẩm được tái chế hoặc tái sử dụng/tổng lượng sản phẩm được bán ra) x 100%

Be Sociable, Share!

Gửi bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *